Thứ ba, 09/03/2021

Phổ biến pháp luật

Tránh nhầm lẫn giữa hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã và hòa giải tranh chấp đất đai thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở

Tránh nhầm lẫn giữa hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã

và hòa giải tranh chấp đất đai thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở

 

Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Khoản 1 Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này”. Theo đó, hòa giải tranh chấp về lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hòa giải ở cơ sở được quy định cụ thể tại Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. 

Hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã là thủ tục để giải quyết tranh chấp được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 trong trường hợp các bên tranh chấp không tự hòa giải hoặc không hòa giải được thông qua hòa giải ở cơ sở. Từ đó có thể thấy được điểm chung giữa hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở với hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã là hoạt động hòa giải đều nhằm mục đích giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn giữa hai hay nhiều bên bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta nhầm lẫn giữa hòa giải tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở và hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã.

    Thứ nhất, về cơ sở pháp lý, mỗi hoạt động hòa giải đều được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật riêng biệt.

- Hoạt động hòa giải ở cơ sở được điều chỉnh bởi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản có liên quan như: Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở; Nghị quyết liên tịch 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương MTTQVN về hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở; Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTP-BTC của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở…

- Hoạt động hòa giải trong giải quyết các tranh chấp đất đai được điều chỉnh bởi Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.
     Thứ hai, mặc dù tranh chấp về lĩnh vực đất đai cũng nằm trong phạm vi hòa giải ở cơ sở, tuy nhiên về bản chất hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở và hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã khác nhau.

- Hòa giải ở cơ sở nói chung và hòa giải tranh chấp đất đai thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở nói riêng là phương thức tổ chức giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trên cơ sở khuyến khích, thuyết phục các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau nhằm xóa bỏ mâu thuẫn, bất đồng, từ đó đạt được thỏa thuận phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, góp phần xây dựng tinh thần đoàn kết trong nội bộ nhân dân, tương thân tương ái, giữ gìn đạo đức, tình làng nghĩa xóm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

- Hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã là hoạt động hòa giải mang tính chất thủ tục hành chính tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đối với các tranh chấp về đất đai theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013, theo đó Luật Đất đai khẳng định Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Trong trường hợp tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Thứ ba, chủ thể tiến hành hòa giải của hai hoạt động hòa giải là riêng biệt.

- Theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hoạt động hòa giải ở cơ sở được thực hiện bởi các hòa giải viên thuộc các tổ hòa giải. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở (gồm thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố và cộng đồng dân cư khác) để hoạt động hòa giải. Cơ cấu tổ chức của tổ hòa giải gồm có tổ trưởng và các hòa giải viên; mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ (đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số). Hòa giải viên được bầu ra trong số những người có các tiêu chuẩn như: Có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư; có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân, có hiểu biết pháp luật. Sau khi bầu chọn được hòa giải viên, Trưởng ban công tác Mặt trận Tổ Quốc lập danh sách đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Tổ trưởng tổ hòa giải do hòa giải viên bầu trong số các hòa giải viên để phụ trách tổ hòa giải.

    - Theo Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, hoạt động hòa giải trong giải quyết các tranh chấp đất đai do Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai thực hiện. Cơ cấu thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Thứ tư, sự khác nhau về thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải.

- Hòa giải tranh chấp đất đai thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở có địa điểm là nơi xảy ra vụ, việc hoặc nơi do các bên hoặc hòa giải viên lựa chọn, bảo đảm thuận lợi cho các bên, hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có mặt của các bên. Trong trường hợp các bên có người khuyết tật thì có sự hỗ trợ phù hợp để có thể tham gia hòa giải.Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày được phân công, hòa giải viên bắt đầu tiến hành hòa giải, trừ trường hợp cần thiết phải hòa giải ngay khi chứng kiến vụ, việc hoặc các bên có thỏa thuận khác về thời gian hòa giải.

- Hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã được tiến hành ngay tại trụ sở UBND cấp xã và được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Đây là thủ tục hòa giải mang tính chất hành chính và có tính bắt buộc trong giải quyết tranh chấp đất đai. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã không làm mất đi quyền khởi kiện của đương sự. Tuy nhiên, nếu không thực hiện qua thủ tục hòa giải này mà yêu cầu trực tiếp đến Tòa án thì Tòa án sẽ không thụ lý vụ việc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thứ năm, về hệ quả pháp lý của việc hòa giải

- Đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở, nếu hòa giải thành, các bên có thể thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành và có thể yêu cầu Tổ hòa giải gửi đơn lên Tòa án Nhân dân yêu cầu ra Quyết định công nhận vụ việc hòa giải thành theo quy định tại Công văn số 1503/BTP-PBGDPL ngày 05/5/2017 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở; nếu hòa giải không thành thì các bên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Đặc biệt quyết định hòa giải thành không có chế định bắt buộc phải thực hiện nên các bên có quyền thay đổi quyết định nếu sau đó cảm thấy chưa thỏa mãn.

- Đối với hoạt động hòa giải trong giải quyết các tranh chấp đất đai, kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản. Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của UBND cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã. Các bên buộc phải thực hiện và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của mình.

Như vậy, có thể thấy, tuy giống nhau về mục đích và ý nghĩa nhưng giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở và hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã là hai hoạt động hoàn toàn khác nhau về bản chất, thủ tục tiến hành, hệ quả pháp lý… Do đó, cần căn cứ vào từng trường hợp, từng vụ việc cụ thể để xác định, giải quyết, hướng dẫn người dân đến đúng cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết mẫu thuẫn, tranh chấp, tránh việc nhầm lẫn gây ảnh hưởng người dân./.

 

                                                   Phạm Thị Quỳnh - Phòng Tư pháp huyện

 

 

Liên kết Website

Quản lý văn bản

Một cửa điện tử

Thông tin truy cập

Đang Online

6

Tổng truy cập

347250