Thứ bảy, 31/10/2020

Thông tin chỉ đạo điều hành

Xử lý vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực

 

Ngày 15/7/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã gồm 9 chương, 91 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2020. Trong đó có một số nội dung đáng chú ý như sau:

1. Về phạm vi điều chỉnh

Ngoài giữ nguyên những lĩnh vực như những văn bản trước thì trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP bổ sung thêm về lĩnh vực hòa giải thương mại và thừa phát lại. Có thể thấy Nghị định này ra đời là hoàn toàn phù hợp. Bởi ngay sau Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 24/02/2020 về Thừa phát lại được tổ chức và áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước thay vì chỉ áp dụng ở một số địa phương thì Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngay lập tức đã bổ sung thừa phát lại để có thể tránh những hành vi sai phạm của các văn phòng hành nghề thừa phát lại.

Ngoài ra trong lĩnh vực hành chính tư pháp, bổ sung thêm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đây là một điểm mới thấy rõ sự tiến bộ trong phạm vi điều chỉnh trong Nghị định số 82/2020/NĐ-CP. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ra đời năm 2017 nhưng những hành vi sai phạm của Nhà nước trong vấn đề này lại chưa chịu sự điều chỉnh của luật hành chính.

2. Về đối tượng xử phạt

 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã có những thay đổi và mở rộng đối tượng chịu sự điều chỉnh như sau: Ngoài loại hình “Trung tâm tư vấn pháp luật”  và “Trung tâm trọng tài” thì Nghị định đã bổ sung thêm cả “chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật” và “chi nhánh, văn phòng đại diện của trung tâm trọng tài; chi nhánhvăn phòng đại diện của tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam” vào đối tượng áp dụng; bổ sung loại hình “tổ chức mà nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng”.

Ngoài ra việc mở rộng phạm vi điều chỉnh nên Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cũng đã liệt kê ra các đối tượng điều chỉnh thuộc các lĩnh vực ngành nghề mới như: Trung tâm hòa giải thương mại; chi nhánh, văn phòng đại diện của trung tâm hòa giải thương mại; tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng thừa phát lại.

3. Quy định về mức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

Tại Điều 4 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình là 30.000.000 đồng; lĩnh vực thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là 40.000.000 đồng; lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50.000.000 đồng. Trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

4. Phạt đến 40 triệu đồng nếu luật sư tiết lộ thông tin khách hàng khi chưa được phép

Theo đó, tại khoản 7 Điều 6 luật sư khi tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề mà không được khách hàng đồng ý bằng văn bản theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư; hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 tháng đến 09 tháng.

Ngoài ra, các hành vi: Cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; Xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo trái pháp luật; Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc; Tham gia lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người để gây rối trật tự công cộng, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự... cũng bị mức phạt tương tự.

5. Công chứng ngoài trụ sở bị phạt đến 7 triệu đồng

Hành vi Công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng không đúng quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP được Chính phủ tăng mạnh. Hiện nay, tại khoản 8 Điều 1 Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ hành vi này đang bị phạt từ 1.000.000 - 3.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, mức phạt đã tăng lên từ 3.000.000 - 7.000.000 triệu đồng.

Đây cũng là mức phạt dành cho các hành vi vi phạm sau: Công chứng không đúng thời hạn quy định; sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng không đúng quy định; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng; từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; không dùng tiếng nói hoặc chữ viết là tiếng Việt; vi phạm các quy định về hướng dẫn tập sự như: Hướng dẫn nhiều hơn 02 người tập sự tại cùng một thời điểm, khi không đủ điều kiện theo quy định…; công chứng hợp đồng, giao dịch trong trường hợp không có phiếu yêu cầu công chứng; trong thành phần hồ sơ có giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung…

6. Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về nội dung khai sinh

Theo đó tại khoản 2 Điều 37 hành vi cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về nội dung khai sinh; cam đoan, làm chứng sai sự thật về việc sinh; sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký khai sinh bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Bên cạnh đó, phải kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy khai sinh đã cấp do có hành vi vi phạm.

7. Phạt tiền đến 15 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng phổ biến, giáo dục pháp luật để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Theo đó tại khoản 3 Điều 48 hành vi lợi dụng phổ biến, giáo dục pháp luật để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền chính sách thù địch, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Bên cạnh đó, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, tài liệu có nội dung sai sự thật, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

8. Xử phạt đối với hành vi yêu sách của cải trong kết hôn

Theo đó, điểm đ khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân có hành vi cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn. Theo khoản 12 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ. Như vậy, kể từ ngày 1/9/2020, việc thách cưới quá cao hay đưa ra yêu sách của cải để cản trở kết hôn, ly hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn sẽ bị xử phạt./.

 

                                                             Hoàng Linh- Phòng Tư pháp huyện

 

Liên kết Website

Quản lý văn bản

Một cửa điện tử

Thông tin truy cập

Đang Online

1

Tổng truy cập

336247